Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐÀO KIỀU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐÀO KIỀU. Hiển thị tất cả bài đăng

ĐÀO KIỀU


Vị này là quả đào mùa đông rụng xuống, teo khô như đầu của con chim Kiêu (hoặc chim dữ như cú vọ) nên có tên.

ĐÀO KIÊU  桃 梟
Prunus persica (L.) Batsch.

Xuất xứ: Biệt Lục.
Tên Việt Nam: Đào (rụng khô teo).
Tên khác: Đào nô, Đào cảnh, Kiêm cảnh (Biệt Lục), Thần đào, Qủy độc lâu (Bản Thảo Cương Mục).
Tên khoa học: Prunus persica (L.) Batsch.
Họ : Hoa hồng(Rosaceae)
Mô tả: Xem: Đào nhân.
Tên gọi: Vị này là quả đào mùa đông rụng xuống, teo khô như đầu của con chim Kiêu (hoặc chim dữ như cú vọ) nên có tên.
Thu hái: Thu hái vào tháng giêng lấy hạt trong quả là tốt.
Phần dùng làm thuốc: Hạt quả chưa chín.
Bào chế: Vào htáng 11, lấy rượu chưng trong 3 giờ, sấy khô, lấy dao bằng đồng bóc lấy thịt để dùng.
Tính vị: Vị đắng, Tính ấm, Có độc ít.
Quy kinh: Vào kinh Tâm.
Tác dụng: Cầm máu, cầm mồ hôi.
Chủ trị: Trị ra mồ hôi trộm, mửa ra máu, có thai ra máu.
Liều dùng: 4,5g - 9g
Kiêng kỵ: Mình sốt không có mồ hôi, có biểu tà cấm dùng.
Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị ra mồ hôi trộm không dứt gồm: Đào kiêu, Sương mai, Thông căn, Trúc nhụy, Trần bì, Nhu đạo căn, Mạch nha, sắc uống (Đạo Hãn Phương - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
Tham khảo:
+ Đào kiêu trị Phế khí, đau thắt lưng, phá huyết, trị đau tim, mài với rượu uống nóng (Chư Gia Bản Thảo).
+ Đào kiêu chuyên trị thổ huyết mà đã trị qua các phương pháp mà không hết, đốt tồn tính, tán bột,梟 梟  trộn nước cơm uống có hiệu quả (Thực Liệu Bản Thảo).