HAI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đông y được thế giới phương Tây coi là một trong những y học đổi món (alternative medicine) bên cạnh yoga, thôi miên trị liệu, phân tâm học trị liệu v.v.. để phân biệt với y học thông thường (conventional medicine) mà ta quen gọi là tây y (Occidental medicine or Western medicine). Thôi miên, phân tâm, yoga cũng là những phương pháp trị liệu, nhưng chỉ có đông y là có một y lý có hệ thống và được ứng dụng vào dược liệu và châm cứu để trở thành một y học đa khoa. Chính nhờ ưu điểm này mà đông y ngày nay được thế giới phương Tây đánh giá cao và vấn đề đông tây y kết hợp được đặt ra không những ở Việt
Đông y có giá trị đã đành, nhưng tại sao lại đặt vấn đề kết hợp với tây y? Tại sao người ta không kết hợp yoga với tây y hay kết hợp một y học nào khác với tây y mà lại muốn kết hợp đông y với tây y? Khi đặt vấn đề kết hợp đông tây y, người ta phải liệu xem có thể kết hợp được không và như thế nào gọi là kết hợp. Kết hợp đông tây y có phải, trên lâm sàng, chữa thuốc tây không khỏi, thì chữa thuốc đông; thuốc đông không khỏi qua thuốc tây; đông tây y riêng không hết bịnh, thì vừa cho thuốc đông vừa cho thuốc tây cùng một lúc? Kết hợp trị liệu cũng là kết hợp, nhưng kết hợp trị liệu phải là kết quả của kết hợp sinh lý, bịnh lý, tức kết hợp thực hành chỉ có giá trị sau khi đã có kết hợp lý thuyết. Nhưng hai lý thuyết đông tây y có thể kết hợp được không? Vì hai nền y học đưoc nghiên cứu bằng hai phương pháp khác nhau?
Đông y xưa nay được mệnh danh là y học khí hoá. Y học khí hoá là gì thì khó mà nói được, nhưng ít ra người ta cũng có thể mường tượng nó. Theo như suy luận, thì y học khí hoá là một cái gì khác y học thực nghiệm, không phải y học thực nghiệm và không thể dùng những phương pháp nghiên cứu của y học thực nghiệm dể nghiên cứu đông y; nếy không, đông y sẽ biến thành y học thực nghiệm mất, không còn là y học khí hoá nữa.
Ngược lại, tây y cũng không chấp nhận việc đem phương pháp nghiên cứu của đông y vào việc nghiên cứu của tây y – một phương pháp mà tây y coi là phản khoa học, chỉ cho ra những kết quả gần như là mê tín và chỉ nẳm trong trí tưởng tượng những kiến thức trừu tượng.
Hai phương pháp nghiên cứu đẻ ra hai nền y học với những ưu khuyết điểm của nó. Một khi đã nhận thấy khuyết điểm trong kết quả của phương pháp nghiên cứu, thì chính bản thân phương pháp nghiên cứu của mỗi bên cũng có khuyết điểm. Khuyết điểm trong kết quả nghiên cứu thì dễ nhận thấy khi người ta thất bại trên lâm sàng, nhưng khuyết điểm trong chính phương pháp nghiên cứu thì khó thấy. Tây y tự cho phương pháp thực nghiệm trong y học của họ là hoàn hảo; những bịnh họ chưa chữa được là họ chưa tìm ra, chứ không phải tại phương pháp nhiên cứu của họ không thể tìm ra. Họ tin vào những tiến bộ khoa học kỹ thuật, họ cho rằng những máy điện tử, điện toán sẽ giúp họ hiểu hết con người và sẽ trị được tất cả mọi bịnh. Đông y cũng tự cho phương pháp nghiên cứu của mình là đúng, nhất là khi họ chữa được những ca bịnh mà tây y không chữa được. Họ cho phương pháp thực nghiệm là sai; họ chỉ suy luận một cách triết lý với lý thuyết triết học của họ. Tóm lại, những khuyết điểm của hai nền y học bị người ta đổ thừa tại chưa tiến bộ tới chứ không ngờ những khuyết điểm ấy là do khuyết điểm của những phương pháp nghiên cứu mà ra.
Vì vậy vấn đề đầu tiên là làm sao vạch được khuyết điểm trong phương pháp nghiên cứu của mỗi bên. Vạch ra được khuyết điểm đã khó rồi, nhưng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu còn khó hơn nữa. Đông y không dám dùng phương pháp thực nghiệm để nghiên cứu, tây y không dám dùng phương pháp lý luận (trừu tượng) của đông y để nghiên cứu. Hai phương pháp nghiên cứu của hai nền y học chẳng những dường như mâu thuẩn nhau, mà còn bài xích nhau nữa : hễ cái này tồn tại thì cái kia không tồn tại và ngược lại.
Nếu theo phương pháp nghiên cứu của đông y, thì người học sẽ được một quan niệm khí hoá ; nếu theo phương pháp nghiên cứu của tây y, thì người học sẽ được những kiến thức khoa học, nhưng lại mất quan niệm khí hoá. Vì vậy, vấn đề tiếp theo được đặt ra là làm sao ta có thể dùng hai phương pháp nghiên cứu của hai bên một cách điều hoà.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm nối tiếp truyền thống tây phương, nghĩa là từ phương pháp nghiên cứu khoa học cố hữu của nhiều ngành khác, nó được phát triển thêm. Claude Bernard đặc biệt nhấn mạnh sự thực nghiệm là điều kiện phải có cho y khoa, ông cho rằng y học, không thể như toán học, có thể dùng lý luận không mà đủ, nhưng cần phải có thực nghiệm để kiểm chứng lý luận của mình. Phương pháp thực nghiệm chẳng những được áp dụng cho y khoa mà còn được áp dụng cho nhiều khoa học khác.
Khoa học nào cũng phải dùng lý luận như một công cụ đi tìm chân lý. Khác với tây y là khoa học dùng luận lý học hình thức, đông y lại dùng một thứ lý luận có thể coi như một biện chứng pháp, một lối suy luận thường được dùng trong các khoa học xã hội nhưng không được chấp nhận trong luận lý học.
Như thế, phương pháp nghiên cứu của đông y và tây y không phải chỉ giới hạn trong lĩnh vực y học mà còn hiện diện cả ở nhiểu ngành khoa học khác. Tìm hiểu khuyết điểm của đông y và tây y để khắc phục là cải tiến phương pháp nghiên cứu của nhiều khoa học. Trong các khảo luận tiếp theo, người viết chỉ dùng những kiến thức y học và triết học để luận về phương pháp nghiên cứu, nhưng bản thân phương pháp nghiên cứu được mạn đàm ở đây không giới hạn ở một lĩnh vực nào. Tập khảo luận này là một khảo luận triết học đúng hơn là một khảo luận y học. Nhưng không phải vì thế mà không ích lợi cho các nhà y học, vì há không phải tột đỉnh của y học cũng như tột đỉnh của tất cả mọi khoa học là triết học sao? Và há không phải chỉ có cái nhìn của triết học mới hướng dẫn đúng đắn việc chữa trị của các nhà y học sao?
Muốn tổng hợp, người ta
dùng phương pháp qui nạp. Khoa học gốc của đông phương, tức Dịch học, cũng được
thành lập bằng phương pháp qui nạp. Sự qui nạp này không thông qua các dữ kiện
khoa học đã thí nghiệm thành công mà qui nạp trực tiếp từ những hiện tượng
trong thiên nhiên quan sát thấy để đi thẳng tới bản chất nội tại của sự vật.
Khoa học tổng hợp của tây phương cũng phải được thành lập bằng cách qui nạp những
định luật có tính chất chung của các khoa học, giống như mỗi phân khoa đã qui nạp
những kiến thức có tính chất chung để tạo thành qui luật cho phân khoa đó. Trước
hết chúng ta nói về phép qui nạp.
TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC
Triết học
và khoa học đều tìm hiểu về thực tại (sự vật) nhưng mỗi bên theo những phương
pháp khác nhau để tìm hiểu. Nói về khoa học, người ta chỉ có từng phân khoa,
chính vì thế mà chữ khoa (ban ngành) đã được dùng trong chữ khoa học. Người ta
không có một khoa học nào nghiên cứu tất cả các hiện tượng – vật chất và tinh
thần – nhưng ngược lại triết học có tham vọng muốn giải ngay từ đầu tất cả các
hiện tượng trong thiên nhiên – vật chất cũng như tinh thần. Triết học không tự
khu biệt mình trong một lãnh vực nào, nhưng bất cứ một lãnh vực nào cũng có sự
hiện diện của triết học.
Triết học
lý giải mọi hiện tượng bằng sự minh triết (wisdon) nên nó đi từ tổng quát tới
chi tiết ; khoa học tìm ra chân lý của sự vật, tức qui luật của sự vật, bằng
suy luận, nên đi từ chi tiết tới tổng quát. Bản chất của sự minh triết và của
suy luận khác hẳn nhau. Sự minh triết là nghệ thuật ; sự suy luận lả học thuật.
Sự minh triết và nghệ thuật không thể học được nên chúng không phải là một học
thuật. Một khi người ta dùng phương pháp để dạy về minh triết, về nghệ thuật,
thì chúng không còn là minh triết, là nghệ thuật nữa mà nó biến thành một môn học
có bản chất giống khoa học. Sáng tác nhạc là một nghệ thuật, nhưng người ta
cũng có môn học sáng tác, chỉ dạy những phương pháp sáng tác ; môn học này có bản
chất khoa học. Môn học về sự minh triết gọi là triết học. Như vậy bản chất của
triết học cũng giống của khoa học, nhưng sự minh triết thì khác. Do đó chúng ta
phải phân biệt TRIẾT (minh triết) và
TRIẾT HỌC
Vì triết học
bao gồm mọi lĩnh vực của khoa học nên có thể nói triết học là khoa học của mọi
khoa học. Paulsen nói “Triết học là tổng số của tất cả những kiến thức khoa học.
Triết học không thể tách rời những khoa học, nhưng ngược lại là một hệ thống thống
nhất của các khoa học, mỗi khoa học riêng biệt là một phần thiết yếu của một
toàn thể rộng lớn”. Trong chương đầu quyển Triết Học Vũ Trụ (Cosmic Philosophy)
của John Fiske, ông nói “Triết học là một tổng hợp thấu triệt của những giáo
thuyết và phương pháp của khoa học, một thể dính liền của những định lí liên
quan tới vũ trụ mà nó là một thành phần”. Wundt tổng kết bài luận của ông về đề
tài trong hệ Thống Triết Học (System of Philosophy) bằng sự xác nhận rằng triết
học là “khoa học tổng quát cung cấp bởi những khoa học riêng biệt thành một hệ
thống bao gồm”. Hoff-man giải thích thêm, “mỗi khoa học riêng lẻ nghiên cứu những
đối tượng cá biệt và hệ thống hóa chúng, tương tự như vậy, triết học hệ thống
hóa những khoa học riêng lẽ lại”.
Phương
pháp của khoa học là phải chọn đối tượng. Dĩ nhiên, cơ bản của mọi khoa học đều
là những sự kiện (facts). Những sự kiện đó là những sự kiện vật chất hay phi-vật-chất
(material or immaterial) điều đó không quan trọng. Những sự kiện đó thu hoạch bởi
sự quan sát bên ngoài hay bên trong (external observation or internal
observation) cũng không quan trọng. Nhưng điều quan trọng là những sự kiện đó
phải rõ rang, chính xác, có thể tách rời khỏi những sự kiện khác. Nói cách
khác, nếu sự kiện quá mơ hồ, tối nghĩa đến nỗi nó không thể định nghĩa được,
thì những sự kiện đó phải bị loại ra khỏi vòng nghiên cứu của khoa học.
Sự kiện rõ
ràng thôi chưa đủ mà sự kiện ấy phải là cái có thể kiểm chứng (verify) được. Ta
có thể lần lượt trải qua một chuỗi kinh nghiệm khác nhau, nhưng nếu những kinh
nghiệm ấy không lặp lại được, thì những kinh nghiệm ấy cũng không xây dựng được
một khoa học. Một người không có khả năng thí nghiệm những sự kiện hiện bày trước
họ không thể được gọi là một nhà khoa học. Vì lí do đó mà những phòng thì nghiệm
ngày nay trở thành phương tiện không thể thiếu đối với khoa học.
Những sự
kiện rõ ràng và kiểm chứng được cho nhà khoa học những kiến thức. Nhưng nếu những
kiến thức đó để lộn xộn, thì cũng không thành khoa học. Những kiến thức đó phải
được xếp thứ tự lại thành một hệ thống, có kiến thức đặt trước, có kiến thức để
sau và từ kiến thức này dẫn tới kiến thức khác một cách mạch lạc, thứ tự. Những
sự kiện và những kiến thức về những sự kiện đó có thể tự nó không có thứ tự trước
sau trong thiên nhiên, nhưng ta phải, theo lời dạy bảo của Descartes, cứ giả định
cho chúng một thứ tự nào đó để nghiên cứu, để hệ thống hóa một cách có luận lý
(logically), khởi từ những sự kiện đơn giản đi lần tới những cái phức hợp.
Triết gia
không theo phương pháp của khoa học. Ngay cả những sự kiện trước con mắt của
nhà khoa học, triết gia vẫn quan niệm nó không chính xác vì tính biến dịch của
nó. Đối với triết gia thì sự kiện nào cũng không lặp lại lần thứ hai, vì sự vật
luôn luôn đổi mới. Kinh nghiệm là cái cũ, là cái không đúng với sự thật trong
hiện tại nữa nên những thí nghiệm cũng không có giá trị về phương diện thực dụng.
Đứng trước thiên nhiên, triết gia chỉ có sự lãnh hội (comprehend, understand)
nó. Ngay cái sự lãnh hội này cũng không thể diễn đạt bằng lời vì bản chất của
ngôn từ là bất động. Lời nói được phát biểu một cách miễn cưỡng. Nhận thức được
điều gì trong thiên nhiên bằng sự minh triết của mình, triết gia phát biểu điều
đó không theo một thứ tự gì cả, vì trong thiên nhiên không có thứ tự, không
phân tích thì không có cái đơn giản nhất, cái phức hợp hơn. Không thí nghiệm
thì không có những kiến thức cố định gọi là kiến thức đúng chắc chắn.
Triết học
cũng là một khoa học, nhưng nó lại dạy người ta phủ nhận khoa học, hay nói cho
đúng hơn, nó dạy người ta phủ nhận tính bất động của khoa học, và dạy người ta
phủ nhận luôn cả tính bất động của triết học bằng ngôn từ để đạt được sự minh
triết và nghệ thuật và sự sáng tạo. Những hiểu biết về sự vật nhận thức bằng
minh triết một khi được miễn cưỡng phát biểu thành ngôn từ, thì nó hoặc trở
thành triết học (là cái phủ nhận khoa học và phủ nhận luôn cả chính nó cũng bất
động) hoặc nó trở thành khoa học. Vì thế mà Dịch kinh vừa là triết học, vừa là
khoa học. Khoa học Dịch-kinh bao trùm mọi khoa học khác, vì nó tìm hiểu ngay bản
chất nội tại của sự vật. Khi ta dùng Dịch-kinh như một khoa học của các khoa-học,
thì Dịch-kinh là một khoa-học ; khi ta dùng Dịch-kinh để phá vỡ những cái cố định
của khoa học, thì Dịch-kinh là triết học.
Ngoài Dịch-kinh
ra, ở tây phương, hay nói một cách chính xác hơn, ở Đức, cuối thế kỷ 18 đầu thế
kỷ 19, thuyết biện chứng pháp của Hegel có tham vọng đóng vai trò lãnh đạo các
khoa học. Không chờ hội tập tất cả những tiến bộ khoa học cho thật đầy đủ để
xây dựng lý thuyết, ông đi tắt bằng cách thiết lập mâu thuẫn biện chứng pháp,
mong đi vào bản chất nội tại của sự vật, khỏi cần thu hoạch kiến thức của từng
sự kiện, nhưng biện chứng pháp của ông không đủ mạnh để thuyết phục mọi khoa học.
Khoa học
bao trùm này được thành lập theo cách nào? Nó có trước các khoa học hay có sau
các khoa học? Ở Đông phương, Dịch Kinh, một khoa học (nói về khía cạnh khoa học
của Dịch Kinh chứ không nói khía cạnh triết học của nó), được coi là khoa học của
các khoa học, xuất hiện trước tất cả các khoa học. Ở tây phương thì các khoa học
có trước và đã phát triển khá xa, trong khi đó vẫn chưa có một khoa học bao
trùm. Nhìn qua lịch sử ta thấy đông phương đi từ một khoa học bao trùm, một
khoa học của các khoa học, tới những khoa học phân khoa nhưng đi chưa tới các
phân khoa (ở đông phương ngay các phân khoa vẫn chưa được nghiên cứu bằng
phương pháp khoa học), tức đông phương đi từ gốc tới ngọn, nhưng chưa tới. Tây
phương đi từ các khoa học phân khoa tới một khoa học bao trùm nhưng chưa đi tới,
tức đi từ ngọn tới gốc nhưng chưa tới. Vì thế con đường của đông phương là chi
tiết hóa, con đường của tây phương là tổng hợp. Khoa học của các khoa học đối với
tây phương là một khoa học tổng hợp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét